Ung thư vú trong và sau khi mang thai một năm

 

Người dịch: Hoàng Thu Hà

Hiệu đính: Bs. Nguyễn Hoàng Dương – Bệnh viện Ung bướu Hà Nội

Giới thiệu

Tài liệu này dành cho những ai được chẩn đoán ung thư vú trong quá trình mang thai hoặc trong năm đầu tiên sau khi sinh.

Nếu bạn được chẩn đoán ung thư vú trong quá trình mang thai, bạn vẫn có thể được điều trị hiệu quả mà không ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi.

Việc được chẩn đoán ung thư vú trong khi mang thai hoặc ngay sau khi sinh con là hiếm gặp và điều này có thể khiến bạn cảm thấy rất cô đơn. Bạn có thể cảm thấy sốc, sợ hãi và buồn bã vào thời điểm đáng ra sẽ rất hạnh phúc.

Chúng tôi hy vọng tài liệu này trả lời được một số câu hỏi của bạn, giúp bạn tham khảo các lựa chọn điều trị cũng như những vấn đề quan trọng đối với bạn và gia đình cùng nhóm bác sĩ điều trị của bạn.

Chúng tôi khuyên bạn đọc cùng với tài liệu Điều trị ung thư vú nguyên phát.

Bạn cũng có thể thấy hữu ích khi đọc tài liệu Ung thư vú ở phụ nữ trẻđề cập đến những vấn đề cụ thể cho những phụ nữ trẻ mắc ung thư vú.

Ung thư vú trong và sau khi mang thai một năm

Chẩn đoán ung thư vú trong quá trình mang thai hoặc ngay sau khi mang thai

Nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào của ung thư vú, bác sĩ ở phòng khám tổng quát sẽ khám vú và quyết định có gửi bạn tới phòng khám chuyên khoa vú hay không.

Tại phòng khám chuyên khoa, bạn thường sẽ được thăm khám vú kỹ càng và làm thêm một hoặc một số xét nghiệm sau

Siêu âm

Bạn thường được chỉ định làm siêu âm tuyến vú, là thủ thuật sử dụng sóng âm để tái tạo hình ảnh của tuyến vú.

Xét nghiệm này tuyệt đối an toàn và không ảnh hưởng đến thai nhi của bạn.

Chụp X quang tuyến vú

Bạn có thể được yêu cầu chụp X quang tuyến vú (chụp nhũ ảnh). Trong quá trình chụp bạn sẽ được che chắn để bảo vệ thai nhi khỏi bức xạ.

Chụp cộng hưởng từ (MRI)

Mặc dù siêu âm và chụp X quang tuyến vú thường là cách tốt nhất để phát hiện những thay đổi sớm của tuyến vú, đôi khi chụp cộng hưởng từ (MRI) cũng được sử dụng với hiệu quả tương tự. Chụp MRI không làm cơ thể phơi nhiễm với bức xạ tia X.

Sự an toàn của chụp cộng hưởng từ tuyến vú trong khi mang thai chưa được công bố. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu nhỏ về chụp MRI trong khi mang thai cho thấy MRI là an toàn, đặc biệt là 3 tháng đầu của thai kỳ.

Sinh thiết lõi hoặc chọc hút kim nhỏ

Sinh thiết lõi là việc sử dụng một kim rỗng để lấy một mẫu mô vú.

Chọc hút kim nhỏ (FNA) sử dụng bơm kim tiêm nhỏ để lấy một mẫu các tế bào vú.

Sau đó mẫu được gửi tới phòng xét nghiệm để quan sát dưới kính hiển vi.

Cả hai xét nghiệm đều an toàn cho bạn và thai nhi.

Sinh thiết lõi được sử dụng phổ biến hơn cho phụ nữ mang thai và có thể cho kết quả đáng tin cậy hơn trong chẩn đoán.

Sau sinh thiết phụ nữ mang thai thường gặp bầm tím vú do vú được tăng cung cấp máu vào thời điểm này.

Bạn cũng có thể thực hiện được sinh thiết lõi khi đang cho con bú, mặc dù điều này có khả năng tăng nguy cơ nhiễm trùng ống dẫn sữa và rò rỉ sữa.

Đôi lúc, việc chẩn đoán thông qua sinh thiết lõi không thể thực hiện được. Trong trường hợp này bạn có thể được sinh thiết có hỗ trợ hút chân không hoặc sinh thiết phẫu thuật có gây tê tại chỗ để lấy một mẫu lớn mô vú. Nhóm bác sĩ điều trị sẽ tư vấn phương pháp nào là tốt nhất cho bạn và cho thai nhi.

Các xét nghiệm chụp chiếu khác

Chụp cắt lớp vi tính (CT) và xạ hình xương thường không được khuyến cáo trong quá trình mang thai do ảnh hưởng của bức xạ tới thai nhi.

Tiếp tục mang thai có an toàn không?

Việc đình chỉ thai kỳ thường không được khuyến cáo khi thai phụ được chẩn đoán ung thư vú. Hầu hết phụ nữ sẽ tiếp tục mang thai trong khi được điều trị ung thư vú. Tuy nhiên có một số phụ nữ quyết định không tiếp tục mang thai.

Quyết định đình chỉ thai kỳ là lựa chọn của cá nhân. Điều này chỉ có thể được quyết định bởi bạn, hoặc bạn và bạn đời, dưới sự tư vấn của nhóm bác sĩ ung thư và bác sĩ sản khoa.

Không có bằng chứng nào chứng tỏ việc đình chỉ thai kỳ sẽ cải thiện kết quả điều trị cho phụ nữ bị ung thư vú trong khi mang thai.

Tuy nhiên, việc đình chỉ thai kỳ có thể cân nhắc nếu bạn cần điều trị hóa trị trong vòng 3 tháng đầu của thai kỳ. Điều này xảy ra khi ung thư đã di căn (các tế bào ung thư từ vú đã lan tới các cơ quan khác của cơ thể như xương, phổi, não hoặc gan).

Dù quyết định thế nào, bạn cũng rất cần dành thời gian để đưa ra sự lựa chọn đúng đắn sau khi thảo luận với nhóm bác sĩ điều trị của bạn.

Ai sẽ chăm sóc tôi trong và sau khi mang thai?

Nhóm bác sĩ điều trị sẽ gồm các bác sĩ ung thư, bác sĩ sản khoa và nữ hộ sinh.

Bạn sẽ được gửi tới nhóm bác sĩ điều trị có kinh nghiệm trong điều trị sản phụ mắc ung thư vú.

Quá trình thai sản của bạn sẽ được các bác sĩ sản khoa và nữ hộ sinh có kinh nghiệm trong việc chăm sóc sản phụ mắc ung thư vú theo dõi.

Ung thư vú trong khi mang thai có ảnh hưởng đến thai nhi không?

Không có bằng chứng rằng việc mắc ung thư vú trong khi mang thai ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi trong tử cung.

Bạn không thể truyền bệnh ung thư sang thai nhi và không có bằng chứng nào cho thấy đứa trẻ sau này sẽ mắc ung thư do bạn mắc ung thư vú trong khi mang thai.

Ung thư vú trong khi mang thai có ác tính hơn không?

Không có bằng chứng kết luận rằng ung thư vú trong khi mang thai ác tính hơn ung thư vú xảy ra vào thời điểm khác.

Tuy nhiên, việc phát hiện ung thư trong vú trong khi mang thai có thể khó khăn hơn, đồng nghĩa với việc chậm trễ trong chẩn đoán và  phát hiện ung thư ở giai đoạn muộn hơn.

Điều trị ung thư vú trong khi mang thai và sau khi sinh

Việc điều trị ung thư vú trong quá trình mang thai vẫn có thể hiệu quả, và nhóm điều trị sẽ cho bạn biết những phương án điều trị phù hợp.

Thông thường, phương án điều trị sẽ phụ thuộc vào loại và mức độ ung thư vú, trường hợp cụ thể và giai đoạn mang thai của bạn.

Mục đích chính là mang lại cho bạn phương án điều trị hiệu quả nhất trong khi giữ an toàn cho thai nhi.

Các bước điều trị tiếp theo phụ thuộc vào giai đoạn mang thai của bạn và việc trước đó bạn có con hay chưa.

Nếu bạn gần tới cuối thai kỳ, nhóm bác sĩ điều trị có thể trì hoãn điều trị cho đến sau khi bạn sinh.

Nếu đang cho con bú, bạn sẽ được khuyên dừng cho con bú trước khi tiến hành điều trị.

Phẫu thuật

Phẫu thuật có thể thực hiện an toàn trong tất cả các giai đoạn của thai kỳ.

Bạn có thể được lựa chọn giữa phẫu thuật đoạn nhũ và phẫu thuật bảo tồn.

Phẫu thuật đoạn nhũ là cắt bỏ tất cả vú kể cả núm vú.

Phẫu thuật bảo tồn vú là phẫu thuật loại bỏ khối u cùng với diện cắt (biên) của mô vú bình thường xung quanh u. Phẫu thuật này cũng được gọi là phẫu thuật cắt rộng tại chỗ hay phẫu thuật lấy u.

Xem thêm bài: Phẫu thuật vú

Trong ba tháng đầu của thai kỳ, bạn nhiều khả năng được khuyên đoạn nhũ. Lý do là không phải tất cả các phụ nữ đoạn nhũ đều cần xạ trị bổ trợ, trong khi phẫu thuật bảo tồn thường cần điều này. Xạ trị bổ trợ nói chung thường không được khuyến cáo vào bất cứ giai đoạn nào trong thai kỳ, do có nguy cơ nhỏ làm thai nhi bị ảnh hưởng bởi bức xạ (xem trang sau).

Nếu bạn được chẩn đoán ở ba tháng giữa thai kỳ và được yêu cầu hóa trị bổ trợ sau khi phẫu thuật, bạn có thể cân nhắc phẫu thuật bảo tồn. Đó là do bạn sẽ được xạ trị bổ trợ sau khi kết thúc hóa trị, và sau khi bạn sinh em bé.

Nếu bạn ở ba tháng cuối thai kỳ, bạn có thể cân nhắc phẫu thuật bảo tồn do bạn có khả năng xạ trị được sau khi sinh em bé.

Cho dù bạn được phẫu thuật theo phương thức nào, bạn cũng sẽ được gây mê. Nói chung gây mê được xem là an toàn trong khi bạn mang thai mặc dù có nguy cơ rất thấp gây sẩy thai ở giai đoạn sớm của thai kỳ.

Tái tạo vú

Tái tạo vú trong lúc phẫu thuật (tái tạo tức thì) thông thường không được thực hiện trong khi mang thai. Nguyên nhân là do có nguy cơ chảy máu cao hơn trong khi mang thai và để giảm tối đa thời gian gây mê.

Tái tạo vú thường sẽ được thực hiện về sau (tái tạo trì hoãn).

Bạn có thể đọc thêm thông tin ở tài liệu “Tái tạo vú”.

Phẫu thuật vét hạch bạch huyết

Nếu ung thư vú ở giai đoạn xâm lấn, nhóm bác sĩ điều trị thường sẽ kiểm tra sự di căn hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay.

Bạn có thể được lấy ra một hoặc vài hạch bạch huyết để xét nghiệm, được gọi là sinh thiết hạch gác và thường được thực hiện cùng lúc với phẫu thuật ung thư vú.

Sinh thiết hạch gác bao gồm tiêm một lượng nhỏ chất có hoạt tính phóng xạ vào khu vực xung quanh khối u. Việc này không ảnh hưởng tới thai nhi. Tuy nhiên, nhìn chung việc sử dụng thuốc nhuộm màu xanh lam cùng với chất có hoạt tính phóng xạ không được khuyến nghị trong khi mang thai. Bác sĩ phẫu thuật sẽ thảo luận liệu sinh thiết hạch gác có phù hợp với bạn hay không.

Một số người sẽ được vét tất cả các hạch bạch huyết, hay còn gọi vét hạch triệt căn.

Bạn có thể tìm thấy thêm thông tin trong tài liệu “Điều trị ung thư vú nguyên phát”.

Hóa trị

Hóa trị tiêu diệt các tế bào ung thư bằng thuốc chống ung thư.

Việc kết hợp các thuốc hóa trị có thể được chỉ định trong khi mang thai.

Sử dụng thuốc chống nôn và steroid để kiểm soát các tác dụng phụ được xem là an toàn đối với phụ nữ mang thai.

Cần tránh hóa trị trong ba tháng đầu thai kỳ do hóa chất có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi hoặc gây sẩy thai.

Thông thường, hóa trị trong ba tháng giữa và ba tháng sau thai kỳ là an toàn. Hầu hết phụ nữ được điều trị trong thời gian này sinh ra em bé khỏe mạnh, mặc dù có một số bằng chứng gợi ý việc tăng nhẹ nguy cơ sinh non và sinh con nhẹ cân.

Sự tăng trưởng và phát triển ổn định của thai nhi sẽ được theo dõi định kỳ bằng siêu âm. Bạn sẽ được khuyên dừng hóa trị ba tới bốn tuần trước ngày dự kiến sinh để tránh các biến chứng như nhiễm trùng trong hoặc sau sinh.

Hóa trị có thể tiếp tục sau khi sinh em bé.

Để có thêm thông tin, xin hãy xem thêm tài liệu “Hóa trị cho ung thư vú”.

Xạ trị

Xạ trị là sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư.

Xạ trị thường không được khuyến cáo cho bất kỳ giai đoạn nào trong thai kỳ, bởi dù sử dụng liều rất thấp cũng có nguy cơ ảnh hưởng tới thai nhi.

Phương án điều trị trong khi mang thai sẽ cố gắng tránh xạ trị hoặc trì hoãn cho đến sau khi sinh.

Nếu không có lựa chọn nào khác ngoài xạ trị, một số thay đổi có thể được thực hiện để đảm bảo an toàn cho thai nhi.

Để có thêm thông tin, xin đọc tài liệu “Xạ trị cho ung thư vú nguyên phát”.

Liệu pháp nội tiết

Một số loại ung thư vú sử dụng chất nội tiết estrogen trong cơ thể để giúp ung thư phát triển. Chúng được biết đến là ung thư vú có thụ thể nội tiết estrogen dương tính hay ER+.

Liệu pháp nội tiết ngăn chặn hay làm gián đoạn ảnh hưởng của estrogen tới các tế bào ung thư. Các thuốc khác nhau của liệu pháp nội tiết hoạt động theo các cách khác nhau.

Liệu pháp nội tiết không được chỉ định trong khi mang thai. Nếu bạn thuộc nhóm ung thư vú có thụ thể nội tiết estrogen dương tính, bạn sẽ được bắt đầu liệu pháp nội tiết sau khi sinh con.

Ung thư vú được chẩn đoán trong khi mang thai hiếm khi là ER+.

Xin xem thêm tài liệu “Điều trị ung thư vú nguyên phát” hoặc tài liệu về thuốc nội tiết để có thêm thông tin.

Liệu pháp điều trị nhắm trúng đích (còn được gọi là liệu pháp sinh học)

Đây là một nhóm các thuốc ngăn chặn sự phát triển và lan tỏa của ung thư. Chúng nhắm tới và can thiệp vào các quá trình phát triển của tế bào ung thư.

Liệu pháp nhắm trúng đích được chỉ định phụ thuộc vào các đặc điểm tế bào ung thư của bạn.

Liệu pháp nhắm trúng đích phổ biến nhất thường dùng dành cho thụ thể Her-2 dương tính. Her-2 là một protein giúp tế bào ung thư phát triển.

Các liệu pháp nhắm trúng đích thường không được chỉ định trong khi mang thai. Nếu liệu pháp nhắm trúng đích phù hợp với bạn thì bạn sẽ bắt đầu sử dụng sau khi sinh con.

Để có thêm thông tin về các loại liệu pháp nhắm trúng đích khác nhau, xin xem https://breastcancernow.org/targeted-therapy.

Sinh con

Nhiều phụ nữ được chẩn đoán ung thư vú trong quá trình mang thai vẫn hoàn thành đầy đủ thai kỳ và không có bất kỳ vấn đề gì trong khi sinh con dù được điều trị ung thư vú.

Thời điểm bạn sinh con sẽ phụ thuộc vào phương án điều trị của bạn và ngày dự kiến sinh.

Nếu thai nhi nhiều khả năng được sinh sớm, bạn sẽ được tiêm một liệu trình steroid để giúp cho phổi của thai nhi phát triển và giảm nguy cơ mắc các vấn đề về hô hấp.

Nếu có thể, nhóm bác sĩ điều trị thường cố gắng tránh mổ đẻ, để tránh biến chứng đi kèm với cuộc mổ, ví dụ khả năng nhiễm trùng khi hệ miễn dịch của bạn bị ảnh hưởng bởi hóa trị.

Cho con bú

Nhóm bác sĩ điều trị và nữ hộ sinh sẽ cho bạn lời khuyên về cho con bú, phụ thuộc vào bạn đang ở giai đoạn nào của kế hoạch điều trị.

Nếu bạn đang cho con bú khi bạn được chẩn đoán ung thư vú, nhóm bác sĩ điều trị sẽ khuyên bạn dừng việc cho bú.

Nếu bạn có câu hỏi về cho con bú, hãy trao đổi với nhóm bác sĩ điều trị và các chuyên gia nuôi con bằng sữa mẹ khác như nữ hộ sinh để có thêm sự hỗ trợ và lời khuyên.

Cho con bú sau phẫu thuật

Cho con bú có thể tiến hành với một số phụ nữ mắc ung thư vú điều trị bằng phẫu thuật, nhưng không phải trong khi đang hóa trị, xạ trị, điều trị bằng liệu pháp nội tiết hoặc nhắm trúng đích. Việc cho con bú có thể thực hiện tốt đối với bên vú lành còn lại.

Hóa trị và cho con bú

Trong và sau quá trình hóa trị một thời gian, bạn không nên cho con bú do thuốc hóa chất có thể truyền sang con qua sữa mẹ.

Bạn có thể vắt sữa cho đến khi kết thúc hóa trị. Bạn sẽ không thể dùng sữa này để nuôi con, nhưng vắt sữa nghĩa là bạn vẫn có thể tạo ra sữa để cho con bú sau khi kết thúc hóa trị.

Xạ trị và cho con bú

Mặc dù có nhiều phụ nữ vẫn có thể tạo sữa từ bên vú đang điều trị, số lượng sữa tạo ra thường sẽ bị suy giảm.

Cho con bú từ vú đã được xạ trị có thể gây viêm vú, và tình trạng này khó để có thể điều trị.

Cho con bú từ vú lành có thể thực hiện được khi bạn không sử dụng các thuốc điều trị khác.

Liệu pháp nhắm trúng đích và cho con bú

Khi bạn sử dụng liệu pháp nhắm trúng đích, không nên cho con bú trong quá trình điều trị hoặc cho tới khi kết thúc ít nhất 7 tháng kể từ liều cuối cùng, do các thuốc nhắm trúng đích có thể đi vào sữa mẹ.

Liệu pháp nội tiết và cho con bú

Liệu pháp nội tiết không được khuyến cáo sử dụng trong quá trình cho con bú do có thể đi vào máu và tiết vào sữa mẹ.

Nếu bạn không thể cho con bú

Bạn vẫn có thể có mối liên kết và chăm sóc con bạn dù bạn không thể cho con bú.

Một số bệnh viện có thể cung cấp sữa mẹ được hiến tặng cho con bạn.

Tránh thai sau mang thai

Bạn có thể mang thai trở lại rất sớm sau khi sinh con, thậm chí nếu bạn đang cho con bú và chu kỳ kinh nguyệt chưa quay trở lại.

Bạn sẽ cần thảo luận vấn đề tránh thai sau khi sinh con. Nhóm bác sĩ điều trị thường khuyên dùng các phương pháp bảo vệ như bao cao su.

Không nên dùng viên thuốc tránh thai cho các phụ nữ đã bị ung thư vú do nó có chứa thành phần nội tiết.

Có thể dùng dụng cụ đặt tử cung (IUD hoặc vòng tránh thai) nếu đó không phải là loại giải phóng ra chất nội tiết. IUD có thể đặt trong vòng 48 giờ sau khi sinh con. Nếu không đặt trong vòng 48 giờ thì bạn nên chờ cho đến bốn tuần sau sinh.

Khả năng sinh sản trong tương lai

Nếu bạn muốn có thêm con và bạn muốn tìm các phương án khả thi để duy trì khả năng sinh sản, bạn có thể thảo luận với nhóm bác sĩ trước khi bắt đầu điều trị. Việc này là có khả năng dù bạn mắc ung thư vú sau khi mang thai.

Bạn có thể tìm thêm thông tin về khả năng sinh sản và điều trị ung thư vú trong tài liệu “Khả năng sinh sản, có thai và ung thư vú”.

Quản lý trong và sau khi mang thai

Mang thai hoặc chăm sóc trẻ sơ sinh trong khi điều trị ung thư vú là rất vất vả cả về  thể chất và tinh thần.

Hãy chia sẻ với những người gần gũi với bạn về cảm giác của bạn và hãy đón nhận bất kỳ đề nghị trợ giúp và giúp đỡ nếu có thể.

Bạn có thể trao đổi với nhóm bác sĩ điều trị hoặc nữ hộ sinh nếu bạn cảm thấy bị quá sức hoặc lo ngại vấn đề gì.

Ung thư vú trong quá trình mang thai không thường gặp nên bạn  có thể cảm thấy đơn độc. Bạn có thể cảm thấy tốt hơn khi chia sẻ cảm xúc, tâm tư với những người cùng hoàn cảnh hoặc đã có trải nghiệm về vấn đề này.

Tài liệu tham khảo

https://breastcancernow.org/sites/default/files/publications/pdf/bcc25_bc_during_and_one_year_after_pregnancy_2020_web.pdf

Bài viết Ung thư vú trong và sau khi mang thai một năm được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

Nguồn

Post Author: Y Sĩ

Avatar

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *