Mỹ: Tranh cãi về tính hữu dụng của các lệnh hạn chế vì dịch COVID-19

Trong những tuần gần đây, tại Hoa Kỳ, số ca nhiễm và số ca nhập viện do COVID-19 đã giảm mạnh tại các bang phía Nam như Florida, trong khi tăng mạnh tại nhiều bang phía Bắc, bao gồm cả những bang có một tỷ lệ lớn dân số đã được tiêm phòng.

Embed from Getty Imageswindow.gie=window.gie||function(c){(gie.q=gie.q||[]).push(c)};gie(function(){gie.widgets.load({id:’vY4ZM33fRXJd8DVKqgPd8w’,sig:’AFllIGrF4Wkop1axxdBC1kvmuZN6GWexBKZ3xIxgR8Y=’,w:’594px’,h:’395px’,items:’1233289325′,caption: false ,tld:’com’,is360: false })});

Ảnh chụp mọi người đang xem một buổi biểu diễn trên đường phố Manhattan, New York, ngày 5/6/2021. (ANGELA WEISS / AFP/ Getty Images)

Ví dụ, số trường hợp được xác nhận nhiễm COVID-19 ở Mississippi đã giảm khoảng 95%, từ mức cao nhất là 5.018 ca vào ngày 19/8 xuống chỉ còn 268 ca vào ngày 7/10. Số người nhập viện do nhiễm COVID-19 đã giảm từ 1.667 ca vào ngày 19/8 xuống còn 403 ca vào ngày 4/10.

Ngoài ra, mức giảm tương tự đã được ghi nhận ở các bang Alabama, Arkansas, Georgia, Florida và Texas.

Tuy nhiên, các chỉ số đang có xu hướng gia tăng ở nhiều bang phía bắc, bao gồm cả các bang ở New England.

Lấy Vermont làm ví dụ, số ca nhập viện đã tăng từ 1 ca vào ngày 5/7 lên 286 ca vào ngày 1/10, số ca nhập viện tăng từ 8 ca vào tháng Sáu lên 160 ca vào tháng Chín, mặc dù các số liệu đã giảm trong những ngày gần đây.

Tại Bắc Dakota, các ca nhiễm tăng từ 143 vào ngày 5/7 lên 4.485 vào ngày 7/10 trong khi số ca nhập viện tăng từ 9 lên 184.

Mô hình theo mùa

Các chuyên gia Mỹ cho rằng sự thay đổi này là một phần của mô hình theo mùa của dịch COVID-19. Điều này cũng đúng vào năm ngoái, khi các ca nhiễm bắt đầu giảm ở miền Nam đồng thời tăng cao ở phần lớn miền trung Tây phía trên và các khu vực phía Bắc khác.

Tiến sĩ Scott Atlas, từng là cố vấn của cựu Tổng thống Donald Trump và hiện là nhà nghiên cứu cấp cao về chính sách y tế tại Viện Hoover, nói với Epoch Times rằng mô hình tương tự đang lặp lại.

Tiến sĩ Adnan Munkarah, Phó Chủ tịch Điều hành kiêm Giám đốc Hệ thống Y tế Henry Ford ở Michigan, đã cho biết thêm về vấn đề trên tại một cuộc họp báo trong tuần này: “Chúng tôi đã thấy một số kiểu theo mùa hoặc là theo chu kỳ thực sự, chúng tôi đã thấy những sự gia tăng này.”

Kể từ khi chạm mức thấp vào đầu tháng Bảy, số ca nhiễm và số ca nhập viện ở Michigan đã tăng lần lượt là 97% và 96%.

Các chuyên gia hiện không thể xác định điều gì đã gây ra mô hình này. Một số ý kiến ​​đã được đưa ra bao gồm nguyên nhân về sự thay đổi độ ẩm và nhiệt độ cục bộ có thể khiến nhiều người ở trong nhà lâu hơn. Virus lây lan dễ dàng hơn trong những căn phòng đông người.

Một số người khác tin rằng sự gia tăng số lượng người đã được chủng ngừa có thể ngăn chặn một làn sóng lây nhiễm khác, hoặc ngăn chặn sự gia tăng mạnh các ca nhiễm, nhập viện và tử vong. Tuy nhiên, điều này đã được chứng minh là không chính xác. Dữ liệu về dịch ở nhiều bang đã phát triển nhanh chóng, đạt mức cao tương đương hoặc thậm chí cao hơn mức đỉnh trước đó.

Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí y khoa The Lancet vào ngày 4/10, hiệu quả của vắc-xin Pfizer-BioNTech COVID-19 giảm xuống dưới 50% sau 5 tháng.

  • Nhà khoa học làm việc cho Pfizer: Miễn dịch tự nhiên có thể bảo vệ tốt hơn vắc-xin
  • EU: Vắc-xin Pfizer, Moderna có thể liên quan tới chứng viêm cơ tim hiếm gặp

Tiến sĩ Michael Saag, giáo sư y khoa tại Khoa Bệnh truyền nhiễm tại Đại học Alabama ở Birmingham, cho biết trong một cuộc phỏng vấn với tờ Epoch Times: “Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta đã thoát khỏi nguy hiểm. Vào cuối tháng 6, mọi thứ dường như đã lắng xuống. Tuy nhiên, sau đó vào ngày 4/7, đó là ngày cuối tuần, biến thể Delta đã thực sự bùng nổ, trong suốt tháng 7, đặc biệt là tháng 8, mọi thứ đã rối tung lên.”

Dịch bệnh hầu như không thể dự đoán được

Các nhà khoa học ngày càng nhận ra rằng đợt bùng phát virus COVID-19 khác với bất kỳ đợt bùng phát virus nào khác. Tiến sĩ Saag nói rằng dịch bệnh “gần như không thể dự đoán được”.

Ông nói thêm: “Tôi cảm thấy rất khiêm tốn khi đối mặt với dịch bệnh này bởi vì tôi không có khả năng dự đoán điều gì thực sự sẽ xảy ra.”

Khi được hỏi trong bản cập nhật hàng tuần vào thứ Sáu rằng tại sao số ca bệnh trong tiểu bang lại giảm nhanh như vậy, Tiến sĩ Scott Harris, nhân viên y tế Alabama, trả lời: “Nếu tôi nói với bạn rằng tôi biết câu trả lời, thì là tôi đang không nói sự thật.”

Những dự đoán của các quan chức y tế liên bang và các nhà lập mô hình xu hướng phát triển đã liên tục sai, bao gồm cả các mô hình xu hướng đã đánh giá quá cao số người cần nhập viện vào năm ngoái.

Tiến sĩ Anthony Fauci, giám đốc Viện Quốc gia về Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ, cho biết trên một chương trình phát thanh của Hugh Hewitt gần đây: “Mọi thứ đã xảy ra thay đổi.“

Tranh cãi do lệnh

Khi đại dịch bùng phát lần đầu tiên vào năm ngoái, thống đốc của nhiều bang ở Hoa Kỳ đã áp đặt các biện pháp hạn chế dịch bệnh nghiêm ngặt, bao gồm cả lệnh đeo khẩu trang.

Đầu năm nay, nhiều thống đốc của các bang miền Nam Hoa Kỳ đã bị công kích, phần lớn là do họ đã phản đối việc thực hiện lệnh phòng chống đại dịch. Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã nhiều lần đổ lỗi cho họ vì sự gia tăng các chỉ số của dịch bệnh. Ông cho rằng chính những người phản đối lệnh đã góp phần làm tăng đột biến các chỉ số dịch bệnh ở các bang miền Nam.

Ông Biden cho biết trong một cuộc họp báo vào tháng Tám: “Sự leo thang của số ca nhiễm đặc biệt tập trung ở các bang có tỷ lệ tiêm chủng thấp. Chỉ có hai tiểu bang là Florida và Texas mà đã chiếm một phần ba tổng số ca nhiễm COVID-19 mới trên toàn quốc. Chỉ có hai tiểu bang.”

Tại một cuộc họp báo khác, ông Biden tuyên bố rằng đeo khẩu trang và tiêm chủng là hai cách tốt nhất để ngăn ngừa COVID-19, các thống đốc, những người đang cố gắng cấm đeo khẩu trang trong trường học, bị cáo buộc đang “tạo ra một tư tưởng nguy hiểm”.

Nhưng các thống đốc vẫn bác bỏ đề nghị của ông Biden về việc thực hiện lệnh chống dịch, đặc biệt là ở các bang miền nam. Đồng thời, ngày càng nhiều quan chức cho rằng hiệu quả của các lệnh này vẫn chưa rõ ràng.

Thống đốc Phil Scott của bang Vermont, cũng là một thành viên đảng Cộng hòa, đã nói với các phóng viên trong tuần này rằng “dữ liệu và khoa học đều không ủng hộ” việc cần nhiều hơn các biện pháp hạn chế.

Ông nói: “Ví dụ, tôi nhận thấy rằng vẫn còn 7 bang ở Mỹ còn đang thực hiện lệnh khẩn cấp và bắt buộc đeo khẩu trang. Nhưng dữ liệu của họ trông không khác gì so với của chúng tôi. Trên thực tế, dữ liệu của họ thậm chí còn cao hơn của chúng tôi. Thật tệ. Vì vậy, các biện pháp giảm thiểu dịch bệnh của họ đã không hiệu quả. Mọi người thấy đó, đã có những ví dụ như thế hết lần này đến lần khác.”

Ngay cả sau đợt tăng đột biến gần đây ở Florida, nơi chứng kiến ​​tổng số người nhập viện cao nhất trong đại dịch, bang này xếp thứ 27.

Cô Christina Pushaw, thư ký báo chí của Thống đốc Đảng Cộng hòa Florida Ron DeSantis, nói với tờ Epoch Times qua email rằng, chỉ số nhiễm bệnh COVID-19 của bang đang giảm mạnh, “đang diễn ra mà không có phong tỏa, quy định đeo khẩu trang hoặc việc thực hiện giấy thông hành vắc-xin.”

Cô Pushawnói: “Còn rất nhiều điều chúng ta chưa biết về COVID-19. Tuy nhiên, rõ ràng là trong 18 tháng qua, bất kể chính phủ có thực hiện các hạn chế như phong tỏa và đeo khẩu trang hay không, các ca nhiễm ở những khu vực nhất định vẫn có sự tăng và giảm vào những thời điểm khác nhau trong năm.”

Mộc Lan/ theo Epoch Times

Xem thêm:

  • GĐ khoa học Pfizer: Mô phôi thai người bị phá bỏ được dùng trong chương trình vắc-xin của hãng</h3

  • CDC Mỹ: Hơn 1.200 người trẻ tuổi bị viêm cơ tim sau khi tiêm vắc-xin COVID-19</h3

The post Mỹ: Tranh cãi về tính hữu dụng của các lệnh hạn chế vì dịch COVID-19 appeared first on Trí Thức VN.

Nguồn

Post Author: Dr Đa Khoa

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *